Thứ Sáu, 21 tháng 9, 2018

Luật bảo hiểm xã hội mới nhất: vọng cổ là gì? Cải lương là gì? Cổ nhạc là gì?


Theo luật bảo hiểm xã hội mới nhất, nhạc cổ truyền đối có chúng ta là 1 mẫu nhạc xưa được tụng ca cho tới hiện tại. Tân nhạc là dòng nhạc mới. Mới ở đây là nghĩa gì? Sở hữu phải là loại nhạc soạn theo nhạc ngữ Âu Mỹ, hay nói 1 cách thức khác, là những bài nhạc được soạn từ 70 năm nay (từ năm 1930) theo kiểu tây thiên tức thị với hòa âm, dùng những nốt nhạc như Do-Re-Mi-Fa-Sol-La-Si-Do mà ko sử dụng Hò, Xự, Xang, Xê, Cống, Líu như trước thời Pháp thuộc? 


Có các bài ca như vẳng cổ, Tứ Đại Oán, và phần nhiều bài bản được sáng tác cho hát cải lương miền Nam có phải là cổ nhạc hay tân nhạc, vì những bài này được sáng tác trong khoảng khoảng đầu thế kỷ thứ 20 trở đi? Vấn đề “Cổ” và “Tân ” hoàn toàn hơi tùy theo quan niệm, nhận xét của người nghiên cứu, theo Luật bảo hiểm xã hội mới nhất. Có thể tìm hiểu thêm Luật bảo hiểm xã hội mới nhất tại https://www.dkn.tv/

Theo luật bảo hiểm xã hội mới nhất, nếu như chúng ta Quan sát lịch sử âm nhạc toàn cầu, thì thời kỳ âm nhạc cận kim của nhạc ngữ tây phương bắt đầu từ cuối thế kỷ thứ 19. Do vậy, ranh giới định rõ cổ và tân nhạc rất là lu mờ.

Để tránh mọi ngộ nhận phức tạp, chúng ta trợ thì gọi như sau: “Cổ nhạc” là dòng nhạc được lưu truyền từ nghìn xưa cho đến nay theo cách thức truyền khẩu, dính liền vào đời sống hàng ngày của người dân quê hay thành phố hoàn toàn tiêm nhiễm văn hóa Đông Phương. “Tân nhạc” dùng để chỉ mẫu nhạc được các nhạc khí tây thiên trình bày như nhạc phòng trà, nhạc được sáng tác theo cách thức tây phương.

Trở về nhạc cổ truyền Việt Nam, số đông người Việt thường nhầm lẫn giữa “Vọng cổ”, “Cải lương”, và “Cổ nhạc”. Chúng tôi thường nghe người mình nói có nhau lúc đi xem đại nhạc hội do những hội doanh nghiệp cho người Việt tỵ nạn xem: “Chà! Kỳ này hát toàn tân nhạc ko, còn cổ nhạc sao ko thấy đâu hết!”, mặc dầu trong chương trình buổi Đó sở hữu nhiều nội dung dân ca, hát bội, v.v.. Phần lớn người Việt tỵ nạn chỉ biết có “Vọng cổ” mà thôi và chỉ thích nghe 1 bài vọng cổ, chứ tuy nhiên xem nhẹ đến các bài khác sử dụng trong hát cải lương. Những người đặt tuồng lại không thấu triệt vốn liếng cổ nhạc nên số bài bản được dùng trong các tuồng cải lương hiện nay ở hải ngoại rất bị giới hạn, và số nghệ sĩ cải lương chỉ ráng học 6 câu xuống cho thật mùi là ăn tiền, chứ không cần học hỏi thêm bài bản như những nghệ sĩ tiền bối của giai đoạn 1940.

Theo luật bảo hiểm xã hội mới nhất, với mục đích bộc lộ cùng bạn đọc một kho tàng phong phú của nền cổ nhạc Việt Nam, và một số vốn đáng nói về bài bản trong hát cải lương, cũng như sự hình thành về sự vững mạnh của bài ca vẳng cổ, chúng tôi trợ thì chia bài tiểu luận này khiến cho ba phần:

vẳng cổ là gì?
Cải lương là gì?
Cổ nhạc là gì?
vẳng cổ là gì?
người nào sáng tác bài “Vọng cổ”? Theo hầu hết các nhà nghiên cứu Việt Nam, ông Sáu Lầu (tên thật là Cao Văn Lầu), người tông tích tỉnh giấc Bạc Liêu, nhân nghe trống điểm văng vọng từ 1 chòi canh sắp xóm làng nhà, thấy tâm hồn xúc động mà nẩy ra ý nhạc viết thành bài “Dạ Cổ Hoài Lang” (nghĩa là nghe trống canh khuya nhớ chồng). Ông Sáu Lầu, sau lúc chung sống sở hữu vợ 8 năm mà ko mang một mụn con, bác mẹ của ông mới bắt ông phải kiếm 1 người vợ khác để kỳ vọng có con nối dõi tông trục đường. Vào nă m 1920 ông Sáu Lầu mới sử dụng cây đờn cò để sáng tác bài “Hoài Lang” (nhớ tới nhân tình của mình). Sau ngừng thi côngĐây ông Sáu Lầu mới đờn bài này cho ông Tần Xuân Thơ (gọi là Thống, thầy tuồng của gánh Tân Minh Kế ở Bạc Liêu) nghe. Chính ông Tần Xuân Thơ viết lời cho bài “Hoài Lang” được sửa lại là “Dạ Cổ hoài lang”, nhịp 2. Lúc hát cải lương thành hình trong thập niên 20, bài “Dạ Cổ hoài lang” được những ông thầy tuồng đưa vào những vở cải lương và dần dần thay thế bản Tứ đại oán.

Chuyện gia đình của ông Sáu Lầu được thu xếp ổn thỏa. Vợ chồng ông Sáu Lầu được im bề và sau chậm tiến độ hai người sanh được mấy mụn con. Ông Tần Xuân Thơ mới đề nghị cộng ông Sáu Lầu đổi tên bài lại thành “Vọng cổ” (tức nhớ chuyện dĩ vãng).

Khoảng năm 1925-27, bài “Dạ Cổ hoài lang” được phổ biến phổ thông trong giới cải lương. Nhịp hai không đủ chỗ để viết lời cho nên bài “Vọng cổ” được nâng cao lên thành nhịp 4. Bài “Tiếng nhạn kêu sương” của ông Tư Chơi (Huỳnh Thủ Trung) mang thể là bài trước tiên viết theo bản “Dạ Cổ hoài lang nhịp tư”.

Thầy Giác là người khởi xướng bài “Dạ Cổ hoài lang nhịp 8” vào khoảng năm 1929-1930. Nhưng phải đợi đến năm 1935-37 nghệ sĩ Năm Nghĩa chính thức phổ thông trong giới yêu cải lương qua bài “Văng vẳng tiếng chuông chùa”.

Bài “Vọng cổ nhịp 16” được chính thức thành hình vào năm 1938 qua tiếng đờn của nhạc sĩ Bảy Hàm sở hữu tiếng hát của cô Tư Sạng trong bài “Tình mẫu Tử”. Nhưng phải đợi vài năm sau (sau thế chiế n thứ 2) mang tiếng hát điêu luyện của nghệ sĩ Út Trà Ôn trong bài “Tôn Tẫn giả Điên”, bài “Vọng cổ nhịp 16” mới được phổ thông rộng rãi hơn.

trong khoảng năm 1954 trở đi, bản “Vọng cổ nhịp 32” xuất hiện qua những đĩa hát do các hãng đĩa Asia, Hồng Hoa, Lam Sơn, Hoành Sơn xuất bản. Bài “Đội Gạo tuyến đường Xa” của Kiên Giang do nghệ sĩ Hữu Phước hát được kể là tiêu biểu nhứt.

từ năm 1964, soạn fake Viễn Châu mới đưa tân nhạc vào tạo thành cái hát “tân cổ giao duyên”. Cách thức đưa tân nhạc vô bài vẳng cổ bắt yêu cầu rút ngắn bản vẳng cổ làm bài vẳng cổ 6 câu còn lại 4 câu thôi.

Về sau với người đưa bài vọng cổ lên thành vẳng cổ nhịp 64 và vọng cổ nhịp 128 nhưng ko thành công. Bởi thế tới hôm nay, sau gần 50 năm bản vọng cổ nhịp 32 vẫn còn “ăn khách” và được nhiều mạnh mẽ.

Trong lịch sử âm nhạc Việt Nam, chưa bao giờ chúng ta được thấy 1 bài nhạc biến chuyển và phổ thông nhiều trên toàn cương vực Việt Nam và trong lòng của đại đông đảo người Việt trong cũng như ngoài nước. Tuy là một bài buồn nghe muốn “đứt ruột, nhức xương”, khiến người xa nhà, nhớ quê hương, mà cũng có thể làm người bộ đội hy sinh tánh mạng nơi chiến trường để giữ vững lãnh thổ, hay nấu nung lòng phục quốc của người tản cư bây giờ. Thường thì bài buồn sử dụng âm điệu buồn, bài vui dùng âm điệu vui như chúng ta biết trong cách thức dùng viết nhạc. Đây là một trường hợp ngoại lệ, mà giả dụ có dịp, tôi sẽ Đánh giá tận tường hơn.

vẳng cổ chỉ là 1 bài trong phần nhạc cải lương. Biết hát vọng cổ chưa mang thể kể là biết hát cổ nhạc, biết hát cải lương. Hát vẳng cổ theo loại nhạc thính phòng hay chiếc nhạc “xa-long” (tiếng Pháp là “Salon”) hoàn toàn khác sở hữu hát vọng cổ trong cải lương. Người hát vẳng cổ theo chiếc nhạc thính phòng nỗ lực hát cho thật hay trong phương pháp ngân nga, luồng giọng cho ngọt, ăn nhịp cho chắc. Người đệm đàn cho bài vọng cổ trong cái nhạc thính phòng chỉ cần giữ nhịp cho chắc, và với thể nhấn vuốt tùy theo tài nghệ của người đánh đờn. Hát vọng cổ trong cải lương mang khi chỉ hát hai câu, 4 câu, hoặc 5 câu, ít lúc hát 6 câu từ đầu đến cuối. Sự dị biệt giữa 2 cách thức hát rất quan trọng. Sở hữu người chỉ biết hát hoặc hoặc đờn vọng cổ cho loại nhạc thính phòng mà không thể hát hay đờn vẳng cổ cho hát cải lương.


Từ khóa: luat bao hiem xa hoi moi nhat. Có thể tìm hiểu thêm luat bao hiem xa hoi moi nhat tại https://www.dkn.tv/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét